Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam hiện nay có quá nhiều vấn đề mà nguyên nhân bắt nguồn từ chính hệ thống giáo dục lỗi thời, lạc hậu không dễ gì giải quyết trong một sớm một chiều. Để có thể luận bàn về vấn đề phân tầng đại học ở Việt Nam, chúng ta cần trả lời một câu hỏi: Nền giáo dục đại học Việt Nam đang ở đâu? Để từ đó đưa ra được một triết lý giáo dục đúng đắn.

Bức tranh GD ĐH Việt Nam: Quá nhiều bất cập, lộn xộn!

Bức tranh về GD ĐH Việt Nam mới nhất mà Bộ GD-ĐT vừa đưa ra tại Hội nghị Hiệu trưởng các trường ĐH, CĐ cho thấy giáo dục ĐH có quá nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém, trì trệ và không đổi mới. Vậy giáo dục phải chăng ngày càng đi xuống?

Qua rà soát các trường đại học năm 2013 của Bộ GD-ĐT cho thấy trung bình tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trên số giảng viên quy đổi (SV/GV) đạt 22,7, nhiều trường có tỷ lệ SV/GV vượt quá quy định (45 trường có trên 30 - 50 SV/GV), 09 trường có trên 50 SV/GV. Đặc biệt, trong 3.575 ngành đào tạo ĐH,CĐ được Bộ GD-ĐT khảo sát, trên 500 ngành có số sinh viên vượt quá 30 SV/GV quy đổi, trong đó gần 100 ngành có tỷ lệ SV/GV đạt trên 100 tập trung ở khối ngành Kinh tế - quản lý, Luật và Giáo dục

Cụ thể nhất là qua kết quả kiểm tra việc thực hiện cam kết thành lập trường tại 25 trường ĐH, CĐ trong đó 16 trường công lập và 9 trường ngoài công lập cho thấy một số trường chưa có đất thuộc sở hữu, chưa xây dựng cơ sở vật chất trên diện tích đất hiện có, nhiều trường vẫn đi thuê mượn địa điểm... Nhiều trường hầu như không có cảnh quan, khu thể thao cho sinh viên.

Giáo dục đại học Việt Nam đang ở đâu?

Về phòng nghiên cứu và thiết bị sử dụng còn quá nhiều yếu kém, chỉ có 19,7% phòng thí nghiệm được đánh giá có công nghệ thiết bị hiện đại, chỉ có 15,5% phòng thí nghiệm được đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học mà những phòng này lại chủ yếu ở các trường đại học trọng điểm, trường hàng đầu của Việt Nam. Thậm chí tính đến máy tính thì 3,6 giảng viên mới có 1 máy tính, 27,3 sinh viên mới có 1 máy tính.

Về thư viện, tính trung bình 21,2 sinh viên mới có 1 chỗ ngồi, diện tích phòng đọc thư viện bình quân 0,05m2/1 sinh viên. Trong đó, khối Kinh tế - Luật tỷ lệ thấp nhất chỉ 0,02m2/1 sinh viên. Chỗ ngồi còn không có nên nói đến tài liệu tham khảo lại càng ít hơn.

Về đội ngũ giảng viên, tính đến cuối năm 2013 - 2014 , cả nước có 471 trường ĐH, CĐ, số giảng viên trong các trường này là 91.633 người nhưng chỉ có 517 người có học hàm giáo sư. Lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho rằng, số lượng giảng viên hiện nay vẫn thiếu và yếu về số lượng.

Một vấn đề quan trọng nữa, mặc dù Luật GD ĐH quy định việc thành lập Hội đồng trường đối với các cơ sở GD ĐH công lập và đảm bảo quyền lực của Hội đồng này trong mọi hoạt động của nhà trường.

Tuy nhiên, thực tế thời gian qua, đa số các cơ sở GD ĐH chưa thành lập Hội đồng trường, một số trường thành lập Hội đồng trường như hoạt động chiếu lệ, không thực chất. Điều này một mặt thể hiện sự thiếu nghiêm minh trong chấp hành luật pháp, mặt khác không đảm bảo được cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh để thực hiện quyền tự chủ đi liền với cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình của nhà trường.

Trong thực tế vận hành những năm gần đây, một số trường được thí điểm giao quyền tự chủ cao nhưng thiếu sự giám sát của Hội đồng trường đã xảy ra những vi phạm quy chế đào tạo, vi phạm dân chủ cơ sở dẫn đến mất đoàn kết, khiếu kiện kéo dài.

Đối với GD ĐH ngoài công lập, Luật GD ĐH xác định trường ĐH tư thục không vì lợi nhuận, khi không chia lợi nhuận hay chia nhưng không quá mức lãi của trái phiếu chính phủ. Nhà đầu tư vẫn là chủ sở hữu của nhà trường. Khung pháp lý hiện nay đủ để các nhà trường ngoài công lập hoạt động. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống các trường ngoài công lập gặp nhiều khó khăn như tỷ lệ tuyển sinh không đủ chỉ tiêu, mất đoàn kết nội bộ, xung đột giữa Hội đồng quản trị và cổ đông... lỗi ở đây không phải là lỗi của cơ chế chính sách mà thuộc về điều kiện cụ thể của từng trường.

Tham khảo thêm: Việt Nam đứng thứ mấy trong bảng xếp hạng chất lượng giáo dục toàn cầu?

Giáo dục đại học Việt Nam đang ở đâu?

Nguyên nhân do đâu?

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình chỉ ra 3 nguyên nhân quan trọng dẫn đến giáo dục đại học thấp: Thứ nhất, do sự phát triển quá nhanh của các trường đại học trong thời gian qua do yếu kém của quản lý; Thứ hai, chi phí đơn vị để đào tạo sinh viên ở nước ta hiện nay quá thấp do phương châm Giáo dục là quốc sách hàng đầu chưa được quán triệt đầy đủ (Do các trường tuyển quá đông sinh viên nên chi phí cho mỗi sinh viên giảm xuống ); Thứ ba, quản lý giáo dục đại học chưa chú ý đến sự phân tầng về chức năng của hệ thống để đáp ứng nhu cầu đa dạng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Hậu quả dẫn đến là:

Bất cập ngay từ ở cấp trên

Hầu như năm nào Bộ Giáo Dục cũng đều có những sửa đổi, bổ sung hệ thống giáo dục đại học từ việc thi cử cho đến nội dung giảng dạy nhưng đến nay thực sự vẫn chưa hoàn thiện, còn quá nhiều những vấn đề nảy sinh mà hàng ngày người ta phân tích đầy trên các mặt báo.

Nội dung chương trình nặng về lý thuyết suông, xa rời thực tế

Đây là vấn đề muôn thuở của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đã tồn tại cả chục năm về trước, nguyên nhân của vấn đề này là do thiếu sự liên kết chặt chẽ của nhà trường đối với doanh nghiệp, chưa nắm bắt được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp thành ra nội dung đào tạo cứ lẩn quẩn bao nhiêu năm cũng chỉ có bấy nhiêu đó, dần dà trở nên lạc hậu vì thế không nắm bắt đúng nhu cầu của doanh nghiệp. Hệ lụy này dẫn đến nạn thất nghiệp tràn lan của sinh viên mới tốt nghiệp, thống kê năm 2013 cho thấy có tới 101.000 sinh viên thất nghiệp có bằng đại học.

Giáo dục đại học Việt Nam đang ở đâu?

Thiếu thốn và “giao phối cận huyết” trong công tác đào tạo giảng viên

Khác với số lượng giáo viên trung học, tiểu học, giảng viên đại học rất khan hiếm, rất nhiều trường tư không có giảng viên giảng dạy, phải hợp đồng với giảng viên của các trường công lập. Vấn đề này ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM đã lớn thì ở các tỉnh lẻ còn trầm trọng hơn.

Việc đào tạo nguồn nhân lực cho các trường đại học ở Việt Nam hầu hết là bồi dưỡng những sinh viên tốt nghiệp loại giỏi trở thành giảng viên, cái tư duy sai lầm vẫn cứ tồn tại suốt hàng chục năm nay, một sinh viên mới ra trường chỉ có lý thuyết suông, thiếu thực tế và do trường đào tạo thì chỉ có cái tư duy "nội bộ" của trường đó mà thôi, thiếu cái nhìn toàn diện thì khó phát triển, việc này cứ quay đi quẩn lại mà dần dần dẫn đến hệ lụy là “tư duy lối mòn” mà có một người đã hài hước ví von “giống như giao phối cận huyết” vậy.

Mang nặng tính thương mại

Khác với nền giáo dục tiên tiến ở một số nước phương Tây xem giáo dục như nghĩa vụ của Chính phủ đối với cộng đồng, ở Việt Nam giáo dục lại đặt nặng vào tính thương mại, thậm chí còn được coi là "ngành kinh doanh béo bở”. Có nhiều trường “sáng tạo” ra rất nhiều môn học tập nham, không liên quan gì đến ngành học nhằm mục đích thu tiền học phí của sinh viên.

 

Share this article

Trịnh Mến

Trịnh Mến