Đào tạo tiến sĩ theo chuẩn quốc tế

0

Trong xu thế hội nhập quốc tế, chúng ta đang rất cần nguồn nhân lực chất lương cao, nhất là nguồn nhân lực có trình độ tiến sĩ. Nhưng ngay việc đào tạo tiến sĩ hiện nay cũng còn nhiều bất cập về thực trạng đào tạo, cơ chế, chính sách…

Với lợi thế đa ngành, đa lĩnh vực, đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học trình độ cao, các phòng thí nghiệm hiện đại Ðại học Quốc gia Hà Nội (ÐHQGHN) đã và đang đào tạo những tiến sĩ chất lượng cao thông qua việc gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học.

Thực tế cho thấy, chúng ta đang thiếu hụt nghiêm trọng số lượng cán bộ khoa học, giảng dạy có trình độ cao, mà trước hết đó là những người có học vị tiến sĩ. Tỷ lệ tiến sĩ đứng trên bục giảng ở Việt Nam hiện nay quá thấp, tính bình quân mới khoảng 17%. ÐHQGHN có tỷ lệ tương đối cao, khoảng 40%. Ðể có được tỷ lệ tiến sĩ như ÐHQGHN trên quy mô toàn quốc cần có lộ trình dài. Vì vậy, Bộ trưởng Giáo dục và Ðào tạo (GD – ÐT) chủ trương coi trọng việc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, cụ thể là những cán bộ có trình độ tiến sĩ. Ðề án đào tạo 20 nghìn tiến sĩ của Bộ GD – ÐT là nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt này.

Tuy nhiên, ngoài việc tăng số lượng, cần đặc biệt coi trọng và có những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ. Quy trình đào tạo chặt chẽ, đội ngũ cán bộ giảng dạy nhiều kinh nghiệm, chất lượng cao, cùng với các chính sách phù hợp là những yếu tố bảo đảm chất lượng tiến sĩ ở ÐHQGHN. Từ nhiều năm nay, ÐHQGHN tích hợp nghiên cứu khoa học với đào tạo tiến sĩ. Bên cạnh việc trực tiếp tạo ra các sản phẩm khoa học chuyển giao thành công nghệ, hàng hóa thương mại, thì đây còn là một giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo.

Các nước có nền khoa học phát triển luôn coi nghiên cứu sinh như là một lực lượng thực hiện nhiệm vụ khoa học. Người thầy là người thiết kế, hướng dẫn và đánh giá kết quả từng công đoạn. Nghiên cứu sinh ở đây không phải chỉ tập dượt nghiên cứu, họ còn được giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học vừa tầm, vừa sức. Trong một đề tài khoa học lớn thì từng phần đều có những nội dung cần giải quyết. Do đó, cần đưa những nội dung này trở thành cốt lõi trong từng luận án tiến sĩ. Làm như vậy có lợi “kép”.

Thứ nhất, bản thân công trình nghiên cứu được triển khai thực hiện bởi nhiều thế hệ khác nhau. Như vậy, người đi trước có nhiều kinh nghiệm và trình độ cao hơn sẽ hướng dẫn người đi sau. Ở đây, những nghiên cứu sinh được làm nghiên cứu thật nhưng ở quy mô nhỏ, chứ không đơn thuần chỉ là “bài tập” được giao.

Thứ hai, kết quả nghiên cứu sẽ được đánh giá hai lần:

  • Lần một chính là đánh giá nghiệm thu của công trình khoa học đó và được đánh giá bởi quy trình nghiệm thu.
  • Lần hai được đánh giá từng phần bởi hội đồng chấm luận án quốc gia.

Với cách làm đó, người học ở trình độ tiến sĩ không chỉ là học theo kiểu dùi mài kinh sử, mà trên thực tế họ còn tiệm cận với phương pháp triển khai nghiên cứu khoa học. Khi tốt nghiệp tiến sĩ, họ sẽ trở thành những người có trình độ khoa học.

Thầy giỏi, cơ sở vật chất tốt, hợp tác quốc tế là ba yếu tố quyết định. ÐHQGHN đã chú trọng đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm hiện đại, thực hiện các hướng nghiên cứu mũi nhọn; đồng thời triển khai các nhóm nghiên cứu mạnh. Ðây cũng chính là nền tảng để đào tạo ra những tiến sĩ giỏi.

So với các đại học đơn ngành, ÐHQGHN có nhiều lợi thế trong việc đào tạo và nâng cao chất lượng tiến sĩ.

Thứ nhất là xây dựng đại học đa ngành, đa lĩnh vực đúng xu thế phát triển tự nhiên, phù hợp nhu cầu xã hội. Ðối với đại học đa ngành, đa lĩnh vực thì sự liên thông tạo nên chất lượng. Ở ÐHQGHN, cho dù là các môn cơ bản hay các môn đại cương thì các đơn vị đào tạo được thừa hưởng những chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành ở các đơn vị trực thuộc đến giảng dạy. Chẳng hạn, các giáo sư toán, tin học có thể tham gia giảng dạy ở Trường đại học Kinh tế… Ngoài ra, liên thông còn tạo ra các ngành mới, những ngành kép đáp ứng nhu cầu xã hội. Những ngành như ngoại ngữ – ngân hàng, du lịch – kinh tế… là ngành mới nhưng số lượng sinh viên đăng ký rất đông. Bên cạnh đó, ÐHQGHN có đội ngũ cán bộ trình độ cao, nhiều kinh nghiệm nghiên cứu khoa học. Như vậy, những nghiên cứu sinh ở ÐHQGHN sẽ được học tập thực hành trong môi trường khoa học trình độ cao. Xin nhấn mạnh, đào tạo tiến sĩ phải được hiểu là đào tạo một nhà khoa học. Chính vì có một môi trường như vậy nên từ lâu, ÐHQGHN đã đặc biệt chú ý những giải pháp tích hợp giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo sau đại học. Cùng với đó, ÐHQGHN cũng có rất nhiều cơ chế để nâng cao chất lượng.

Có thể nói, hướng tới các chuẩn mực quốc tế là một trong những chủ trương của ÐHQGHN. Vì vậy, các kết quả nghiên cứu của luận án tiến sĩ luôn được thông báo rộng rãi. Thực tế, nhiều học viên cao học cũng đã có những bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế. Một số ngành khoa học tự nhiên, như vật lý, toán… yêu cầu nghiên cứu sinh phải có bài đăng trên các tạp chí uy tín quốc tế hoặc trên tạp chí chuyên ngành của quốc gia. Năm 2008, ÐHQGHN có hơn 200 công trình công bố quốc tế trong đó có nhiều bài báo của nghiên cứu sinh.

Ngoài ra, ÐHQGHN đã tiên phong trong việc triển khai xét tuyển tiến sĩ. Ðây cũng là cách mà nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã làm. Với hình thức này, việc tuyển nghiên cứu sinh không áp dụng thi đầu vào, mà tổ chức hội đồng đánh giá đề cương. Ứng viên phải bảo vệ đề cương trước một hội đồng. Cách này giúp cho đơn vị đào tạo hiểu sâu sắc hơn về nghiên cứu sinh. Ðề án 16 + 23 xây dựng và phát triển 16 ngành, 23 chuyên ngành khoa học cơ bản, công nghệ cao, kinh tế – xã hội mũi nhọn ở ÐHQGHN đạt trình độ quốc tế vào năm 2010, đáp ứng yêu cầu của đất nước. Mục tiêu của Ðề án là đào tạo khoảng 55 tiến sĩ đạt trình độ quốc tế trong khoảng thời gian 2007-2010. Ðây là những ngành, chuyên ngành đã có điều kiện cận kề với trình độ quốc tế. ÐHQGHN tiếp tục đầu tư để đạt trình độ quốc tế. Ðề án 16 + 23 kết hợp hợp tác quốc tế để quốc tế hóa đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Đánh giá bài viết
Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng