Khác nhau giữa sinh viên kiến trúc Việt Nam và thế giới

0

Hàng năm, từ 13 cơ sở đào tạo kiến trúc sư (KTS) trình độ Đại học trên cả nước và một phần nhỏ từ nguồn đào tạo nước ngoài, chúng ta có thêm khoảng 1000 KTS tốt nghiệp ra trường.

Nguồn đào tạo chính là Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội và ĐH Kiến trúc TP Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có ĐH Xây dựng Hà Nội, ĐH Tổng hợp Huế và các ĐH mở và dân lập khác.

Vì thế, hiện nay nước ta có khoảng 1,2 KTS/10,000 dân, một tỉ lệ không phải là quá thấp so với một số quốc gia phát triển khác như Đức (8 KTS/10,000 dân), Pháp (4 KTS/10,000 dân), Anh (5 KTS/10,000 dân) và Tây Ban Nha (5 KTS/10,000 dân).

Tuy nhiên, chất lượng đào tạo KTS hiện nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, thậm chí nhiều người còn đặt câu hỏi là: Bao nhiêu phầm trăm trong hàng ngàn sinh viên Kiến trúc ra trường mỗi năm là KTS thực thụ?

Thực trạng tình hình sinh viên kiến trúc Việt Nam sau khi tốt nghiệp

Theo đánh giá của PGS.TS.KTS Trần Trọng Hanh, Hiệu trưởng trường Đại học Kiến trúc Hà Nội thì các sinh viên kiến trúc Việt Nam sau khi tốt nghiệp:

–  Chưa có KTS lớn, có đẳng cấp quốc tế.

–  Có khoảng 30% số KTS tốt nghiệp ra trường là có khả năng sáng tác, làm chủ nhiệm đồ án.

–  Về năng lực nghề nghiệp: loại giỏi (25%), khá (40%), trung bình (30%) và kém (5%)

–  Trình độ ngoại ngữ, tin học còn thấp

–  Trình độ học vấn: Trên đại học khoảng 15%, trong đó PGS, GS chiếm 1.5%.

Về cách thức tuyển sinh đầu vào

Trước tiên, kiến trúc là một ngành đặc thù cần đến sự kết hợp khăng khít giữa kỹ thuật và nghệ thuật, trong đó kỹ năng tư duy logic, khoa học và các kiến thức kỹ thuật là cực kỳ quan trọng.

Tuy nhiên, các chuyên ngành đào tạo Kiến trúc hiện nay lại tính điểm đầu vào bằng cách nhân đôi môn năng khiếu, khiến cho đa số các bạn học sinh phải theo học các lớp vẽ từ trước đó hai năm. Thực ra, đây là điều không hoàn toàn cần thiết và không phải là cách hay để sinh viên làm quen với kiến trúc.

Cơ hội việc làm của sinh viên kiến trúc Việt Nam khi ra trường

Phương thức đào tạo

Phương thức đào tạo KTS ở Việt Nam có phần hơi ngược so với nhiều nước khác trên thế giới.

Trong hai năm đầu, sinh viên được học những môn đại cương theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời được học thêm một số môn cơ sở nền tảng cho chuyên ngành về sau. Tuy nhiên, ở nước ta, những môn cơ sở này chủ yếu tập trung trang bị cho sinh viên các kỹ năng thể hiện bản vẽ kiến trúc.

Ở đa số các nước khác, sinh viên lại được trang bị trước hết là phương pháp và cách thức tư duy, các kỹ năng thể hiện chỉ được xem là những công cụ truyền tải nội dung thiết kế chứ không phải là thiết kế sẽ được giảng dạy trong những năm sau. Đây là một điều rất hợp lý vì hình thành tư duy trong kiến trúc là yếu tố quan trọng bậc nhất để định hình một KTS.

Trong khi sinh viên nước ngoài có khoảng không trong trường học để thực hành, có những bài tập thực tế. Còn sinh viên Việt Nam, đa phần muốn có cơ hội thực hành thường phải làm thêm ở các xưởng kiến trúc. Điều này cũng cho phép các bạn cọ sát nhiều nhưng theo ý kiến của tôi, cũng chỉ dừng lại ở mức độ “thợ vẽ” chứ rèn luyện được tư duy. Việc để thiết kế một chiếc bàn làm việc, hay ghế văn phòng đối với các bạn sinh viên khi còn đang học tại trường dường như là hơi quá sức.

Sinh viên Kiến trúc Việt Nam, mạnh và yếu?

Sinh viên kiến trúc Việt Nam nói chung rất nhanh nhạy với các nguồn thông tin, các bạn rất chịu khó tìm tòi các công trình, các thể hiện, chất liệu mới và cố gắng áp dụng vào bài tập, đồ án của mình. Nhưng do không được đào tạo quy củ về mặt lý luận và tư duy nên sự áp dụng này là chưa sâu. Mà chỉ chú trọng đến bề ngoài của công trình chứ không nhìn thấy được cái triết lý đằng sau công trình.

Còn nhiều vấn đề đang tồn tại trong thực trạng đào tạo hiện nay hoàn toàn nằm trong khả năng khắc phục được. Sinh viên kiến trúc Việt Nam sẽ có được nhiều cơ hội trưởng thành và phát triển nhằm thay đổi vị trí của mình trong tương lai, vấn đề là cần có một sự thay đổi đồng bộ và thực chất từ các cấp lãnh đạo đến từng sinh viên.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng